Ông dùng từ pointer-reading để chỉ việc đọc các con số hay ký hiệu trên các dụng cụ khoa học, tức là sử dụng từ reading theo nghĩa hoàn toàn thông dụng chứ không phải theo nghĩa chuyên môn. Tthứ nhất, việc bất đồng quan điểm nếu kéo dài dai dẳng cho thấy có một vấn đề lớn chưa được hoặc không giải quyết được. Ở thế kỷ XVIII, các tác giả có thói quen viết những tiêu đề rất trau chuốt, tỷ mỷ - những tiêu đề có thể nói hết cho người đọc biết cuốn sách viết gì.
Việc một số tác giả chú ý sử dụng những từ cổ hoặc các nghĩa cổ khiến cho việc đọc sách cũng gây khó khăn không kém việc dịch sách. Như đã nêu, các câu hỏi phải được đặt trong một trình tự giúp ích cho việc nghiên cứu của chúng ta. Được xuất bản lần đầu tiên năm 1940, ngay lập tức, Đọc sách như một nghệ thuật đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất và duy trì vị trí đó trong suốt hơn một năm.
Đồng thời, cách đọc này cũng cho thấy có rất nhiều điều đáng để đọc và cần phải đọc theo cách này nhưng lại thường bị coi là khó đọc, chỉ dành cho những độc giả giỏi. Khi các từ trong câu được sử dụng một cách tường minh thì một câu đơn giản thường diễn đạt một nhận định riêng, nhưng một câu ghép thì vẫn nêu lên hai hay nhiều nhận định. Gibbon xuất bản cuốn Decline and Fall of the Roman Empire (Sự suy tàn và diệt vong của Đế chế La Mã) với mục lục rất chi tiết trong mỗi chương.
Nếu ta phải thoát ra khỏi hiện thực, thì đó chính là hiện thực của đời sống nội tâm, của tầm nhìn duy nhất về thế giới xung quanh. Bạn có thể phản đối một trong các nhận định đó và tán thành những nhận định còn lại. Nhưng điều này ít khi xảy ra.
Một nhân chứng không thể giả sử bất cứ điều gì, cũng không thể đoán, đưa ra giả thuyết hay ước chừng (trừ trong những điều kiện được giám sát rất cẩn thận). Không giống sách hướng dẫn, sách triết học quy phạm dùng các từ phổ biến mô tả phương thức nên sử dụng để đạt các mục tiêu này. Khi áp dụng với sách thực hành, bạn phải khám phá ra và hiểu được các phương tiện mà tác giả gợi ý nên dùng để đạt được mục đích của ông ta.
Tương tự từ điển, bách khoa toàn thư là một công cụ bổ trợ có giá trị khi ta đọc một cuốn sách hay (sách dở thường không cần đến bách khoa toàn thư). Quy tắc 8 được phát biểu như sau: TÌM RA HƯỚNG GIẢI QUYẾT CỦA TÁC GIẢ. Sự rõ ràng được thể hiện ngay trong đề cương, và những phần liên quan đến nhau thì đi cùng nhau theo một trật tự nhất định.
Nếu không làm thế nghĩa là bạn đã sẵn sàng đọc lướt qua cuốn sách. Mỗi tác giả là một tiểu vũ trụ và dù có thể tạo ra mối quan hệ giữa các tác phẩm của cùng tác giả viết trong những thời kỳ khác nhau, thì cũng không có mối liên hệ nào rõ ràng giữa tác giả này với tác giả khác. Bản thân sử gia chịu ràng buộc bởi một quan niệm hay tiêu chuẩn nào đó về tính chính xác cũng như sự tồn tại của những sự kiện.
Do đó, quy tắc 3 không chỉ liên quan đến việc liệt kê các phần trong sách, mà còn bao hàm việc lập dàn ý từng phần, coi đó là những tập hợp con mà mỗi phần lại có tính chỉnh thể và phức tạp riêng. Sự pha trộn đó thay đổi giữa các cuốn sách khác nhau và người đọc có nhiệm vụ phải xác định những thành phần đa dạng tạo ra cuốn sách anh ta đọc. Còn độc giả các tác phẩm thơ ca hay giả tưởng không hành động như vậy, mà tuỳ theo tác phẩm tác động đến độc giả như thế nào thì độc giả hành động như thế.
Bạn sẽ không thể khỏa lấp được sự thiếu hiểu biết của mình trừ phi bạn có thể đặt ra một câu hỏi thông minh cho cuốn sách tham khảo bạn đang sử dụng. Với tư cách là độc giả, họ đối thoại với những tác giả khác cũng như cách mà mỗi người chúng ta đối thoại với tác phẩm chúng ta đang đọc, mặc dù, có thể chúng ta không viết nên những tác phẩm khác. Cuối cùng, giai đoạn bốn là sự trau chuốt và nâng cao các kỹ năng mà trẻ đã lĩnh hội được trước đó.
Nếu độc giả nào không nhận thấy sự chuyển đổi này thì rất khó có thể giao tiếp hay làm việc. Nếu một tác giả khẳng định sự tồn tại của hiện tượng hoặc đặc tính của ý tưởng, ta có thể đặt thêm câu hỏi với tác phẩm của người này. Ví dụ như với nhân dân Mỹ, có lẽ cuộc nội chiến Mỹ có ý nghĩa thực tế với tất cả mọi người nên ai cũng biết đôi điều về lịch sử của nó.